Cuối xuân Ất Tỵ, khi phố xá vẫn nhộn nhịp bước chân người Má Linh Nga cười hiền bảo: "Mình đi tìm thứ một vàng, con ạ!". Bỏ lại chốn phồn hoa đô hội, hai má con ngược rặng Trường Sơn tìm về Hòa Bắc – dải lũng xanh ẩn mình giữa mây trời Đà Nẵng. Tại đây, chúng tôi đã chạm vào những vỉa "vàng ròng" không đong đếm bằng trọng lượng, mà lấp lánh tình người, ý niệm sinh tồn và sự trỗi dậy của một cộng đồng..
1. Nỗi nhớ rừng ở làng Cơ Tu, khúc giao hòa của dòng lục ngọc và những “người thầy vác gùi”
Hòa Bắc không chỉ có những triền cỏ mướt mát ngút ngàn. Thiên nhiên đã vô cùng ưu ái khi ban tặng cho dải lũng này một tuyệt tác: nơi dòng Sông Bắc và Sông Nam hữu tình hội tụ, hòa quyện vào nhau để khai sinh ra dòng Cu Đê mang màu nước xanh ngọc bích, êm đềm chảy mãi về tận cửa biển Nam Ô. Phía cuối dòng lục ngọc ấy là Tà Lang và Giàn Bí – nơi cư ngụ của cộng đồng người Cơ Tu vùng thấp.
Bước chân vào làng, người tinh ý sẽ nhận ra ngay một sự chắp vá đầy xót xa nhưng cũng rực rỡ sức sống của một nền văn hóa đang nỗ lực vươn mình. Có một thời, người Cơ Tu thuộc về những đỉnh núi mây phủ, nơi tiếng trống và tù và vang vọng giữa ngàn sương. Rồi những cuộc thiên di diễn ra. Đồng bào được chính quyền vận động di dời về khu tái định cư ven quốc lộ để tiện bề đầu tư điện, đường, trường, trạm. Những nếp nhà xi măng kiên cố, những hàng rào xi măng gá đá vuông vức cho từng hộ, vô tình bứng những người con của đại ngàn ra khỏi chiếc nôi mẹ thiên nhiên.
Để rồi, khi bước vào sân của bất kỳ hộ gia đình Cơ Tu nào ở Tà Lang – Giàn Bí hiện tại, người ta đều dễ dàng nhận ra một "sự níu kéo" tuyệt đẹp. Thấp thoáng bên cạnh những khối bê tông là những nếp nhà sàn nhỏ, những căn nhà Moong (nhà rẫy) cất lên vội vã từ gỗ, tre và cỏ tranh. Đó là bảo tàng ký ức, là hình hài của "nỗi nhớ rừng" – thứ cội rễ văn hóa dù bị đè nặng dưới lớp xi măng vẫn âm thầm đâm chồi.
Sự chuyển mình của làng thực sự được nhen nhóm khi dự án của tổ chức quốc tế (UNDP) đặt chân đến, trao cho đồng bào chiếc "cần câu" sinh kế. Thế nhưng, bất kỳ dự án hỗ trợ nào rồi cũng đến ngày rút đi. Nếu không có những người con bản địa tự mình đứng lên gánh vác, làng đã có thể rơi vào một khoảng trống chới với.

Phải đi hàng trăm cây số, ngồi lại dưới mái nhà Gươl, má con tui mới thấu hết sự kiên cường của con người nơi đây. Đó là anh A Lăng Như – người thanh niên mang trong mình quyết tâm cháy bỏng, kiên trì bám trụ làm du lịch cộng đồng. Đó là Bác Trung – người đàn ông mang cả tâm huyết tuổi xế chiều cống hiến cho vai trò hướng dẫn viên bản địa, rút ruột kể cho khách nghe từng ngọn nguồn văn hóa của cha ông. Đó là chị Phương với câu chuyện phục hồi nghề dệt và tạo hoa văn đặc trưng bằng kết cườm trắng, hay câu chuyện nấu các món ăn bản địa rồi học cách dọn bữa cho du khách theo kiểu buffet tự phục vụ để tiện chia sẻ như thế nào.
Giữa bức tranh chuyển mình ấy, cũng có những khoảnh khắc khiến hai má con không khỏi chạnh lòng. Ngang qua công trình Trung tâm văn hóa to lừng lững như một chiếc sân vận động, nghe đâu tiêu tốn chừng 15 tỷ đồng, nhưng rốt cuộc, những tảng đá trang trí khổng lồ lại chỉ là... đá giả làm bằng những tấm xốp phết sơn. Sự phô trương ấy làm chúng tôi xót xa, nhưng cũng chính nó lại làm bật lên rực rỡ giá trị của sự chân thật nơi làng bản. Người Cơ Tu nhận ra, du lịch không thể sống dai dẳng bằng những khối xốp tô vẽ.
Chỉ từ khi kết nối với triết lý "Du lịch học tập cộng đồng", làng mới thực sự duy trì và nâng cao được năng lực của chính mình. Nhờ nhân duyên với thầy Chu Mạnh Trinh và mạng lưới học tập, Tà Lang - Giàn Bí trở thành một ngôi trường mở dưới tán rừng.
Lớp học ở đây không có bục giảng. Những người như Bác Trung, anh A Lăng Như e dè ngày nào nay đường hoàng trở thành những "người thầy". Học trò của họ là ai? Đó là những đoàn học sinh, sinh viên về trải nghiệm thực tế; là các nhà khoa học đến nghiên cứu điền dã; và xúc động thay, có cả những đồng bào Vân Kiều lặn lội từ tận Thừa Thiên Huế vào để học hỏi kinh nghiệm.
Tuyệt vời hơn, triết lý du lịch bền vững ấy còn chạm đến trái tim của những du khách quốc tế. Những vị khách từ nước Đức xa xôi khi đến đây, cảm mến tấm lòng giữ gìn sinh thái của cộng đồng, đã mang đến tặng hẳn một công trình xử lý nước thải sinh hoạt cho homestay của A Lăng Như. Sự tuần hoàn kỳ diệu ấy đã chứng minh: Rừng không phải để phá, mà rừng và sự chân thật là "vàng ròng" để đồng bào sinh tồn một cách kiêu hãnh.
2. Những mảnh ghép tuần hoàn ven dòng lục ngọc Cu Đê
Rời thung lũng Tà Lang – Giàn Bí, nơi có những người con Cơ Tu đang kiên cường giữ lửa đại ngàn, hành trình đi tìm "vàng ròng" của hai má con tiếp tục nương theo dòng lục ngọc Cu Đê xuôi về các thôn làng khác của Hòa Bắc. Nếu Tà Lang – Giàn Bí là bài học về nỗ lực hàn gắn đứt gãy văn hóa, thì phần còn lại của Hòa Bắc chính là một cuốn giáo án sống động về kinh tế tuần hoàn.
Ngày tiếp theo ở dải lũng này là lúc mọi giác quan bị đánh thức trọn vẹn. Hai má con thong dong đạp xe quanh các thôn. Gió từ mặt sông xanh thẳm thổi lên, quyện lấy hương lúa đang thì con gái thơm ngát vạt áo. Dọc đường đi, mỗi ngôi nhà, mỗi mảnh vườn hiện lên như một trang sách mở. Ở ngôi trường rộng lớn không bục giảng này, mỗi người dân đều là một người thầy mang theo triết lý sống nương tựa vào mẹ thiên nhiên.
Chẳng cần đến những công trình tiền tỷ hay những khối đá xốp tô vẽ sự hào nhoáng giả tạo, bài học từ homestay của cô Xuân gieo vào lòng người sự chân phương đến chùng lòng. Cô chẳng đập đi xây mới, cũng chẳng chạy theo thứ kiến trúc xa lạ nào. Căn nhà vẫn giữ nguyên xi hình hài bao năm tháng, cô chỉ tỉ mẩn sắm thêm tấm nệm êm, treo nếp rèm màn tươm tất để đón khách. Khách đến nhà là đến với cái tình mộc mạc, ăn bát cơm quê, ngủ giấc ngủ êm đềm của một người bản địa thứ thiệt. Sự nguyên bản ấy, cớ sao lại lấp lánh và đắt giá đến vô ngần!

Bài học khởi nghiệp lại mang một dáng vẻ khác ở mô hình của Khoa. Từ hai bàn tay trắng, chàng trai trẻ không bỏ xứ đi xa mà quyết định cắm rễ vào đất quê, dựng lên quán ăn, quán nước nương tựa vạt lúa êm đềm. Rồi trải dài tầm mắt là mô hình farmstay Hương Bưởi rộng hơn hai hecta trù phú của gia đình cô Thu, hay khu vườn rừng sinh thái ấp ủ bao tâm huyết của Bác Du – nơi con người cặm cụi vun trồng, trả lại cho cây cỏ và đất đai sự trong lành nguyên thủy. Rồi rừng nguyên sinh giữ nước, trả lại cho con người nguồn lợi từ thuỷ sản, mỗi năm thu về hàng trăm triệu đồng lợi nhuận.
Đặc biệt nhất, có lẽ là mảnh vườn tĩnh lặng của Mr. Ken – một người đàn ông Nam Phi đã trót phải lòng dải đất ven sông này. Rời xa quê hương muôn dặm, ông chọn Hòa Bắc làm nhà, lặng lẽ kiến tạo một khu vườn sinh thái để gọi chim trời về làm tổ. Bài học từ người đàn ông ngoại quốc ấy thi vị thay, lại đồng điệu vô cùng với triết lý giữ rừng của người Cơ Tu phía thượng nguồn: Đất lành, không chỉ chim đậu, mà những tâm hồn khao khát thiên nhiên từ khắp nơi trên thế giới cũng tìm về đây nương náu.
Ở Hòa Bắc hôm nay, có những mô hình được đầu tư tốn kém, chạy truyền thông bài bản, nhưng cũng có những góc nhỏ chỉ đơn thuần tựa vào tự nhiên mà sống. Dù xuất phát điểm khác biệt, tất cả những "người thầy" ấy đều đang được đánh thức bởi triết lý của du lịch học tập: Nâng cao đời sống cộng đồng bằng tư duy kinh tế tuần hoàn. Họ không giành giật thiên nhiên, không bức tử môi trường, mà cùng nhau tạo ra một hệ sinh thái dung dưỡng con người.
Bắt đầu từ rừng, kết thúc cũng từ rừng. Trước khi dời đi, tất cả mọi người cùng chung tay ươm giống cây rừng từ hạt. Mỗi hạt mầm nảy sinh sẽ được đem trồng lại gầy dựng tầng rừng già mới từ đồi trọc hoặc bạc màu vì keo, tràm.
Chiều buông, nắng rót những mẻ vàng óng ả xuống mặt sông Cu Đê uốn lượn. Má Linh Nga nhìn những nếp nhà bình yên đang nhen nhóm ngọn khói lam chiều, ánh mắt lấp lánh niềm vui. Khép lại chuỗi ngày rong ruổi chúng tôi mang trong tim đã đầy ắp những câu chuyện truyền cảm hứng. Thứ "vàng ròng" của tri thức, của tình người và sự bền vững ấy, chắc chắn sẽ còn sinh sôi nảy nở mãi trên mảnh đất hiền hòa này.Mong sao ở Đak lak quê tôi, nơi du lịch cộng đồng cũng đang phát triển, cũng có những địa chỉ du lịch học tập như thế
Mai Ly Niê Kdam
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0